Sổ tay nhà quản lý

Những đường thẳng song song

21/02/2012 10:49

1. Trong nỗ lực (đúng hơn phải là trong sự loay hoay tìm giải pháp) nhằm cải thiện tình trạng ùn tắc ở các đô thị lớn… mới đây, Bộ GTVT lại có thêm một “sáng kiến” là thu phí lưu hành ô tô xe máy tại Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ và Hải Phòng với mức 500 nghìn đến 1 triệu đồng/xe máy/năm; 20 triệu đến 50 triệu đồng/ô tô/năm.

Dân tình đón nhận sáng kiến này của ngành giao thông bằng sự phản ứng dữ dội và với bộ mặt tái xanh.

Nếu giải pháp và mức phí này được thông qua, Việt Nam sẽ “vinh dự” trở thành quốc gia có mức phí lưu hành xe cao nhất thế giới! (Mức thu phí cao nhất trên thế giới hiện nay là ở Argentina với 700 USD/năm/ô tô; Singapore là 580 USD/năm và Đức là trên 300 USD/năm). Trong khi đó, theo Global Finance - một tạp chí uy tín của Mỹ vừa công bố báo cáo đánh giá mức sống tại các quốc gia trên thế giới thì Việt Nam xếp thứ 129 và có thu nhập bình quân đầu người… không đủ đóng phí cho một chiếc ô tô!

2. Mặc dù cơ quan đề xuất giải pháp này cho rằng, đây là giải pháp nhằm hạn chế phương tiện cá nhân; tạo thêm kinh phí xây dựng hạ tầng và phương tiên giao thông công cộng… nhưng các chuyên gia lại nhận định: ngành GTVT đang lạc hướng khi liên tục đeo đuổi các giải pháp tài chính đánh vào túi tiền người dân.

Có thể nói rằng, đề xuất của Bộ GTVT lại đi vào “lối mòn” muôn thủa là quản không được thì cấm hoặc thu phí. Và với giải pháp này, Bộ GTVT đã “chọn việc nhẹ nhàng” và đẩy “phần gian khổ” về phía người dân.

Chúng ta cũng cần đặt ra câu hỏi, mục tiêu thực sự của việc thu phí xe cá nhân mà Bộ GTVT đề xuất là gì khi họ chưa có một nghiên cứu khoa học nào về hiệu quả của việc thu phí đối với giải quyết thực trạng kẹt xe, giảm phương tiện cá nhân? Và giảm xe cá nhân đến mức độ nào thì có thể bớt kẹt xe?... Phải xác định được mục tiêu rồi thì mới có thể đưa ra mức phí phù hợp. Thế nhưng, ở đây, mức phí lại được đưa ra không dựa trên một cơ sở khoa học nào, chỉ đề xuất thu tiền một cách “khơi khơi”.

3. Khi gặp những thất bại trong việc đề xuất, ban hành hay triển khai một chính sách nào đó, những “tác giả” của chúng thường hay thắc mắc: Tại sao một chính sách có mục đích tốt đẹp đến như vậy mà lại bị tẩy chay, lại không thể thành hiện thực?

Câu trả lời là do sự quan liêu của đề xuất, của chính sách; là khoảng cách giữa nó và cuộc sống. Chính sách ấy không từ thực tế cuộc sống mà ra nên nó không thể đi vào cuộc sống mà cứ chạy song song với cuộc sống. Bên cạnh đó, dường như, quá trình ban hành chính sách của bộ máy công quyền và quá trình nghiên cứu khoa học của giới học thuật (cũng) là 2 đường thẳng song song.

Phạm Nguyễn