Kinh tế » Diễn đàn kinh tế

Kế “sâu rễ bền gốc”

23/09/2011 09:38

Trong khi tiềm năng xuất khẩu gốm sứ xây dựng rất lớn bởi nhiều lợi thế như: Nguồn nguyên liệu sẵn có, công nghệ sản xuất được đầu tư phát triển nghiêm túc, chi phí nhân công không cao… thì trên thực tế, kim ngạch xuất khẩu gạch ốp lát của toàn Ngành hiện chỉ đạt 120 triệu USD. Cùng với đó, còn quá nhiều vấn đề để lo lắng cho tương lai của toàn Ngành trong khoảng thời gian không xa phía trước.

Xuất khẩu sản phẩm: Chần chừ hay thiếu tự tin?

Ông Đinh Quang Huy - Chủ tịch Hiệp hội Gốm sứ Xây dựng Việt Nam cho hay: Hiện có 10 nước và vùng kinh tế nhập khẩu gạch ốp lát, sứ vệ sinh và nguyên liệu của Việt Nam với kim ngạch đáng kể, đó là Đài Loan, Nhật, Mỹ, Australia, Irac và cả một số nước trong khu vực cũng có ngành công nghiệp gốm sứ đang phát triển như Malaysia, Indonesia, Thái Lan. Cũng theo ông Huy, xuất khẩu gạch ốp lát đạt khoảng 120 triệu USD, nhưng điều đáng nói là nhập khẩu cũng đạt 95,5 triệu USD (chưa kể tiểu ngạch). Như vậy có thể nói lượng nhập và lượng xuất gần tương đương nhau. Điều đó nói lên tiềm năng của thị trường và triển vọng của ngành gạch ốp lát còn điều kiện phát triển rất lớn.

Năm 2011, dòng tiền toàn xã hội đang bị thắt lại, sức mua giảm. Những tháng đầu năm nay các nhà máy sản xuất gốm sứ xây dựng (GSXD) chỉ phát huy được khoảng 70% công suất. Tổng công suất gạch ốp lát hiện xấp xỉ 400 triệu m2, trong số đó khoảng 300 triệu m2 có thể cung cấp ra thị trường. Đó là một tiềm năng rất lớn nhưng chưa được tận dụng đúng như năng lực. Trong xuất khẩu sứ vệ sinh cũng vậy, chủ yếu tập trung vào sản phẩm của hai DN có vốn đầu tư nước ngoài là TOTO và INAX. Điều này cho thấy rất cần sự vươn lên của các Cty khác trong khai thác thị trường xuất khẩu.

Nói là vậy nhưng để thực hiện công cuộc “đem chuông đi đấm xứ người” không phải là dễ. Từ nhiều năm nay chúng ta chưa chú trọng phát triển ngành công nghiệp nguyên liệu, việc khai thác chế biến cũng chưa có công nghệ căn bản, trong khi nguồn nguyên liệu tự nhiên ngày càng giảm. Đây chính là vấn đề nan giải trong một ngày không xa nếu hôm nay chúng ta không ý thức giải quyết.

Thêm nữa, tình trạng sản xuất phân tán, manh mún. Các nhà máy đa phần đầu tư công suất nhỏ, khoảng 2 - 3 triệu m2/năm. Không ít nhà máy đầu tư đã lâu nên máy móc lạc hậu, cũ nát. Nếu có mở rộng nâng công suất tại các cơ sở này cũng chắp vá, rất khó cạnh tranh về công nghệ. Việc tổ chức thị trường nội địa chồng chéo lãng phí. Điều này cũng do đặc thù đầu tư nhỏ lẻ, phân tán. Nó kéo theo chi phí vận chuyển còn lãng phí kéo dài.

Việc đầu tư cho mẫu mã đa dạng, hiện đại vẫn chưa được chú trọng. Đa số sản phẩm vẫn đơn điệu, cấp độ sản phẩm ở mức trung bình, khó hấp dẫn ngay ở thị trường nội địa chứ chưa nói xuất khẩu. Bên cạnh đó, gạch sứ Trung Quốc tràn sang bằng nhiều nguồn, và điều lo ngại là sản phẩm của họ hiện đại, đa dạng và chất lượng đang ngày càng tốt hơn. Những thách thức này ngày một lớn và còn kéo dài.

Tuyệt đối không “tranh mua- tranh bán”

Hiệp hội GSXD Việt Nam vừa đề nghị các DN hội viên một loạt vấn đề quan trọng, trước hết là cần thống nhất điều chỉnh giá bán tăng để bù đắp chi phí đang tăng lên để có lợi nhuận trong bối cảnh lạm phát và tín dụng bị thắt chặt. Tuyệt đối không tranh bán, mua chuộc khách hàng bằng chiêu giảm giá mà dẫn đến ảnh hưởng chung toàn ngành. Mỗi đơn vị cần kiên trì chịu đựng cảnh tiêu thụ chậm do việc tăng giá trong một thời gian ngắn, bù lại sẽ cùng nhau tạo mặt bằng giá mới để bảo đảm sản xuất có lợi nhuận.

Các DN đầu tư mới gạch ốp lát hoặc mở rộng sản xuất cần lưu ý rằng lựa chọn công nghệ có tính năng vượt trội, quy mô sản xuất lớn để cạnh tranh. Nếu không xác định rõ yếu tố vượt trội thì trong vòng 5 năm tới, không nên đầu tư vào lĩnh vực này. Đối với sứ vệ sinh: Cũng nên giữ mức quy mô đầu tư như hiện nay, nhưng nên chú trọng đầu tư nâng cao chất lượng để xuất khẩu.

Điều cấp bách là cần có sự liên kết về sản xuất nguyên liệu. Nguyên liệu đầu vào ngày càng cạn, do đó cần nhìn thẳng sự thật rằng không có ngành công nghiệp nguyên liệu thì ngành Gốm sứ xây dựng Việt Nam cũng sẽ khó có tương lai bền vững.

Những DN mà công suất chỉ từ 2 triệu m2 trở xuống, công nghệ cũ nên thẳng thắn nghĩ tới việc giải thể, bán lại, hoặc sát nhập thành các thành viên của các Cty lớn để được phối hợp hỗ trợ về mặt công nghệ, quản lý, vận chuyển, thị trường và chuyên môn hóa sản phẩm. Các Cty nên sản xuất các sản phẩm kích thước lớn để phát huy được năng lực thiết bị đã đầu tư, lại nâng được giá trị gia tăng bởi có giá bán tốt hơn.

Việc năm 2010 lượng xuất khẩu cả gạch ốp lát và sứ vệ sinh đã tăng 52,35% so với năm 2009, đạt khoảng 182 triệu USD là bước tiến vượt bậc chứng tỏ GSXD Việt Nam ngày càng hòa nhập vào thị trường GSXD thế giới. Vấn đề đặt ra là, DN GSXD Việt Nam chỉ có thể vươn ra thị trường quốc tế bằng cạnh tranh lành mạnh, bằng công nghệ quản lý hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến, thương hiệu và văn hóa DN kiểu mẫu, xây dựng bản sắc và mẫu mã sản phẩm mang cá tính riêng biệt của từng Cty. Bên cạnh đó, các DN cần đầu tư về công nghệ, chắp nối, thống nhất giá giữa các nhà máy với nhau để tránh tình trạng bị đối tác nước ngoài ép giá; hướng tới phát triển công nghệ xanh trong sản xuất, đảm bảo môi trường bền vững.

Hiện nay, trong đàm phán, ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài, thông thường họ yêu cầu DN Việt Nam phải giữ giá ổn định trong thời gian ít nhất là từ 6 tháng đến 1 năm. Nhưng với tình trạng giá điện, giá than liên tục tăng giá thì việc giữ giá ổn định là không khả thi. Vì vậy, đề nghị Nhà nước cần điều chỉnh giá nguyên liệu đầu vào, giá điện, than hợp lý để các DN sản xuất trong nước dựa trên cơ sở đó để quyết định giá xuất khẩu ổn định.

Anh Thư